Ngữ văn lớp 12

[Văn mẫu tuyển chọn] Phân tích tác phẩm Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân

[Văn mẫu tuyển chọn] Phân tích tác phẩm Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân

Dàn ý chi tiết

1. Mở bài

– Giới thiệu tác giả, tác phẩm

– Nêu vấn đề cần nghị luận: Phân tích tác phẩm “Người lái đò Sông Đà” của Nguyễn Tuân

– Khái quát chung

2. Thân bài:

* Câu thơ đề từ:

– “Đẹp vậy thay tiếng hát trên dòng sông”: vẻ đẹp thơ mộng, hiền hòa, nên họa nên thơ.

-“Chúng thủy giai đông tẩu

Đà giang độc bắc lưu”

+ Thủy trình của sông Đà – con sông chảy về hướng bắc khác hoàn toàn so với những con sông khác trên thế giới.

=> Vẻ hung tàn, dữ dội

* Hình ảnh Sông Đà:

– “những cảnh đá bờ sông, dựng vách thành”

– “đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách…có quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia”

– “Có vách đá thành chẹt lòng sông Đà như một cái yết hầu”.

=> Sự eo hẹp của vách đá hai bên bờ sông Đà.

– “mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời”

=> Chiều cao vô cùng vô tận của đá hai bên bờ sông.

– Quãng mặt ghềnh Hát Loóng:

+ “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió”.

+ Điệp từ “xô” mang đến hình ảnh những lớp sóng như cuồn cuộn, chồng lên nhau nối tiếp không ngớt.

+ Hình ảnh so sánh “cuồn cuộn luồng gió ghùn ghè suốt mấy năm như đòi nợ xuýt”

– Quãng Tà Mường Vát:

+ Những cái hút nước “như cái giếng bê tông” không có gì có thể xuyên qua được. + “nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc” vang lên những tiếng kêu “ặc ặc”.

+ “Tiếng thác nước nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo”. “Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng”.

– Trùng vi thạch trận thứ nhất:

+ “giao việc cho mỗi hòn…bày thạch trận trên sông” với bốn cửa tử và một cửa sinh.

+ Đá sông chia thành ba hàng chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền.

+ Lũ đá tướng dùng mẹo phục binh cho hai hòn đá cánh cửa trông như là sơ hở nhằm dụ cái thuyền đối phương đi vào sâu nữa để tiến sâu vào trận tuyến giữa để đánh khuýp quật vu hồi làm lật ngửa con thuyền ra.

+ Ông lái đò vẫn cố gắng kìm nén chịu đựng những nỗi đau về mặt thể xác “cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái mặt méo bệch đi như cái luồng sóng đánh hồi lùng”.

– Trùng vi thạch trận thứ hai:

+ Có thêm nhiều cửa tử nhằm đánh lừa con thuyền bước vào

+ Cửa sinh thì được bố trí lệch qua bờ hữu ngạn

+ Dòng thác “hùm beo đang hồng hộc tế mạnh”.

+ “ông lái đò đã nắm  chắc binh pháp của thần sông thần đá, đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này”.

+ Tùy vào từng bọn đá mà ông có cách ứng phó riêng “đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến”.

– Trùng vi thạch trận thứ ba:

+ Cửa sinh đặt ngay giữa lòng sông, được canh giữ bởi bọn đá hậu vệ, hai bên phải trái đều là luồng chết cả.

+ Ông lái đò “phóng thẳng con thuyền chọc thủng cửa giữa”, “thuyền vút qua cánh cổng đá cánh mở cánh khép.

– Sau quá trình vượt thác đá sông Đà, ông lái đò lại quay trở về với cuộc sống đời thường vốn có.

– Từ trên cao nhìn xuống:

+ “cái dây thừng ngoằn ngoèo”.

+ Trong đường nét mềm mại ấy người ta vô tình quên đi nó là một dòng sông đã từng “đời đời kiếp kiếp làm mình làm mẩy với con người Tây Bắc”.

+ “Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”.

+ Điệp từ “tuôn dài” được lặp lại liên tiếp đến hai lần gợi mở ra chiều dài miên man trải dài khắp một dải đất Tây Bắc.

+ Hình ảnh “áng tóc trữ tình” gợi mở nhiều liên tưởng thú vị.

+ Điểm xuyết giữa đất trời Tây Bắc là sắc trắng của những bông hoa ban và sắc đỏ của những bông hoa gạo.

– Vẻ đẹp thay đổi sắc màu theo mùa của dòng sông Đà:

+ Mùa xuân, sông Đà mang một màu xanh ngọc bích

+ Màu xanh ấy trong sự so sánh với màu xanh canh hến của sông Gâm và sông Lô. + Sang thu, sông Đà mang một màu “lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa….một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về”.

Xem thêm:  Phân tích vẻ đẹp của sông Hương trong “Ai đã đặt tên cho dòng sông này”- văn lớp 12

– Từ trong rừng đi ra, Nguyễn Tuân nhận ra vẻ đẹp của sông Đà mang theo chiều sâu “như một cố nhân”.

– Sắc nắng sông Đà cũng thật lạ, đó là một màu nắng tháng ba Đường thi “Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu”.

– Cảnh sắc nơi đây cũng sống động vui tươi khác hoàn toàn so với những hút nước hung tợn, những thác nước dữ dội “Bờ Sông Đà, bãi Sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên Sông Đà”.

– Khi ngồi trên con thuyền trôi giữa dòng nước sông Đà Nguyễn Tuân thấy thật êm đềm biết bao nhiêu “thuyền tôi trôi trên Sông Đà” nghe thật thư thái.

+ “cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm…”.

+ Dòng sông đã mang đến cho những ngư dân quanh đây nào là cá dầm xanh, cá anh vũ.

3. Kết bài:

– Khẳng định lại vấn đề nghị luận

– Cảm nhận cá nhân

phan tich nguoi lai do song da cua nguyen tuan - [Văn mẫu tuyển chọn] Phân tích tác phẩm Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân

Phân tích tác phẩm Người lái đò Sông Đà

Bài văn tham khảo

Nguyễn Tuân yêu Việt Nam với những giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc. Ông yêu tha thiết Tiếng Việt, những kiệt tác văn chương của Nguyễn DuĐoàn Thị ĐiểmTú XươngTản Đà…, những nhạc điệu hoặc đài của các lối hát ca trù hoặc dân dã mà thiết tha, nh­ững nét đẹp rất riêng của Việt Nam. Nguyễn Tuân là con người rất mực tài hoa. Ông thường vận dụng con mắt của nhiều ngành nghệ thuật khác nhau để tăng cường khả năng quan sát, diễn tả của nghệ thuật văn chương. Nguyễn Tuân nổi tiếng là người sành ăn. Với ông, ăn là một nghệ thuật, một giá trị thẩm mỹ, một sự khám phá cái ngon mà tạo hóa đã ban cho. Nguyễn Tuân là một nhà văn biết quý trọng thật sự nghề nghiệp của mình. Đối với ông, nghệ thuật là một hình thái lao động nghiêm túc, thậm chí “khổ hạnh” và ông đã lấy chính cuộc đời cầm bút hơn nửa thế kỷ của mình để chứng minh cho quan niệm ấy. Tác phẩm “Người lái đò sông Đà” được trích trong tùy bút “Sông Đà” được Nguyễn Tuân sáng tác trong một chuyến đi thực tế đến vùng Tây Bắc. Hiện lên dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân là hình ảnh con sông Đà vừa hùng vĩ dữ dội nhưng cũng không kém phần thơ mộng trữ tình. Ở đó còn hiện lên hình ảnh của người lái đò như một người nghệ sĩ trong nghề chèo đò cũng được hiện lên một cách chân thực dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân.

Mở đầu tùy bút Nguyễn Tuân đã dùng đến hai lời đề từ để khái quát hai nét tính cách của con sông Đà. Lời đề từ “Đẹp vậy thay tiếng hát trên dòng sông” đã mở ra ở sông Đà vẻ đẹp thơ mộng, hiền hòa, nên họa nên thơ. Còn câu thơ:

“Chúng thủy giai đông tẩu

Đà giang độc bắc lưu”

Lại cho người đọc một nhìn nhận đặc biệt về thủy trình của sông Đà – con sông chảy về hướng bắc khác hoàn toàn so với những con sông khác trên thế giới. Nó gợi đến cái vẻ hung tàn, dữ dội mà theo Nguyễn Tuân thì nó là một dòng sông hung bạo.

Dữ dội của sông Đà được Nguyễn Tuân khắc họa nổi bật trên bình diện về thác đá, các quãng Tà Mường Vát, mặt ghềnh Hát Loóng, thác nước ghê rợn và qua ba trùng vi thạch trận còn hiện lên hình ảnh của ông lái đò trong hành trình vượt thác đá sông Đà.

Hùng vĩ của sông Đà không phải chỉ có thác đá mà còn là “những cảnh đá bờ sông, dựng vách thành”, là “đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách…có quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia” hay “Có vách đá thành chẹt lòng sông Đà như một cái yết hầu”. Những chi tiết ấy đã lộ rõ sự eo hẹp của vách đá hai bên bờ sông Đà. Trong câu văn “mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời” lại mở ra chiều cao vô cùng vô tận của đá hai bên bờ sông.

Tại quãng mặt ghềnh Hát Loóng con sông Đà hiện lên trong một chuỗi vận động, va chạm liên hoàn “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió”. Điệp từ “xô” mang đến hình ảnh những lớp sóng như cuồn cuộn, chồng lên nhau nối tiếp không ngớt. Hình ảnh so sánh “cuồn cuộn luồng gió ghùn ghè suốt mấy năm như đòi nợ xuýt” và nếu “quãng này mà khinh suất tay lái thì cũng dễ lật ngửa bụng thuyền ra” làm nổi bật hơn nữa cái dữ dội của con sông Đà. Ở quãng Tà Mường Vát đặc trưng bởi những cái hút nước “như cái giếng bê tông” không có gì có thể xuyên qua được. Tại đây, âm thanh vang lên cũng thật hãi hùng “nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc” vang lên những tiếng kêu “ặc ặc”. Trong tình thế ấy đưa người nghệ sĩ đến với liên tưởng hết sức thú vị. Đó là hình ảnh của một anh bạn quay phim táo tợn đã ngồi lên trên chiếc thuyền rồi cho cả mình và cả thuyền chìm xuống đáy cái hút sông Đà để thu được hình ảnh một mặt giếng mà thành giếng làm bằng nước sông xanh ve. Sông Đà còn tiếp tục uy hiếp tinh thần bất kì một vị khách nào qua đây bằng những thác nước ghê tợn. “Tiếng thác nước nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo”. “Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng”.

Xem thêm:  Tả một cây mai vàng nhân dịp tết đến, xuân về

Tiếp đến là ba trùng vi thạch trận không chỉ lột tả sự hung bạo đến dữ dằn của sông Đà mà còn khắc sâu hình ảnh của tay lái ra hoa – người lái đò sông Đà.

Bước vào trận giao tranh đầu tiên con sông đã dàn trận địa từ trước ” giao việc cho mỗi hòn…bày thạch trận trên sông” với bốn cửa tử và một cửa sinh. Đá sông chia thành ba hàng chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền. Lũ đá tướng dùng mẹo phục binh cho hai hòn đá cánh cửa trông như là sơ hở nhằm dụ cái thuyền đối phương đi vào sâu nữa để tiến sâu vào trận tuyến giữa để đánh khuýp quật vu hồi làm lật ngửa con thuyền ra. Trong trận tuyến thứ ba, nhiệm vụ của những boong-ke chìm và pháo đài là phải đánh tan cái thuyền lọt ở dưới đá tuyến trên. Chúng dùng mưu khích tướng có một hòn đá nếu trông nghiêng thì y như là đang hất hàm với con thuyền là dấu hiệu của sự thách thức con thuyền có giỏi thì lao vào đây. Ngay vừa khi bước vào trận tuyến thứ ba, “mặt nước hò la vang dậy…ùa vào mà bẻ gãy cán chèo” thế rồi “nước bám lấy thuyền như đô vật túm lấy thắt lưng”,”sóng thác đã đánh đến miếng đòn hiểm độc nhất” là ” bóp chặt lấy hạ bệ người lái đò”  ông lái đò vẫn cố gắng kìm nén chịu đựng những nỗi đau về mặt thể xác “cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái mặt méo bệch đi như cái luồng sóng đánh hồi lùng”. Cứ như vậy trước từng chiến của sông Đà mà ông lái đò vẫn giữ vững sự tỉnh táo của một người cầm lái, giữ vững lòng dũng cảm gan dạ của một người nghệ sĩ chèo đò để phá xong cái trùng vi thạch trận thứ nhất.

Bước sang trùng vi thạch trận thứ hai, tại đây đã có thêm nhiều cửa tử nhằm đánh lừa con thuyền bước vào và cửa sinh thì được bố trí lệch qua bờ hữu ngạn còn dòng thác thì “hùm beo đang hồng hộc tế mạnh”. Sông Đà trở thành một con thú hoang đang lồng lộn, quằn quại giữa đất trời Tây Bắc. Thế nhưng “ông lái đò đã nắm  chắc binh pháp của thần sông thần đá, đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này”. Tùy vào từng bọn đá mà ông có cách ứng phó riêng “đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến”. Cuối cùng ông đã vượt qua được cửa ải thứ hai này bằng tất cả sự tài hoa và trí tuệ của mình.

Bước vào trận giao tranh cuối cùng, cửa sinh đặt ngay giữa lòng sông, được canh giữ bởi bọn đá hậu vệ, hai bên phải trái đều là luồng chết cả. Hình ảnh ông lái đò hiện lên thật bệ vệ “phóng thẳng con thuyền chọc thủng cửa giữa”, “thuyền vút qua cánh cổng đá cánh mở cánh khép. Vút, vút cửa trong, cửa ngoài lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được, lượn được”. Dù sóng nước có ghùn ghè quanh năm thì ông lái đò vẫn chẳng một chút nao núng, vẫn giữ chắc mái chèo, chèo bằng tất cả niềm tin yêu của bản thân. Chính cuộc đời lái đò đã tôi luyện lên một “tay lái đò lão luyện” trên mặt trận sông nước.

Sau quá trình vượt thác đá sông Đà, ông lái đò lại quay trở về với cuộc sống đời thường vốn có. Sông nước lại yên lặng đến vô cùng “sóng thác xèo xèo tan trong trí nhớ. Sông nước lại thanh bình. Nhà đò đốt lửa…nướng ống cơm lam và toàn bàn về cá anh vũ và cá dầm xanh”. Ông coi việc đối mặt với con sông Đà hằn học kia chỉ là một chuyện hết sức bình thường, không đáng để bàn tán, kể lể. Đó là khí chất nghệ sĩ toát ra từ mỗi con người bình thường luôn ung dung, thanh thản sau những thác lũ của cuộc đời.

Xem thêm:  Nghề nghiệp không làm nên sự cao quý cho con người mà chính con người mới làm nên sự cao quý cho nghề nghiệp

Nguyễn Tuân tiếp tục khai thác vẻ đẹp của sông Đà trên phương diện là một con sông hiền hòa, thơ mộng, trữ tình.

Từ trên cao nhìn xuống mang đến cho tác giả một cách nhìn nhận hoàn toàn khác về con sông này. Tác giả cho rằng nó như “cái dây thừng ngoằn ngoèo”. Cách nói ấy đã cho bạn đọc cái nhìn khái quát về dáng vẻ uốn lượn của sông Đà. Trong đường nét mềm mại ấy người ta vô tình quên đi nó là một dòng sông đã từng “đời đời kiếp kiếp làm mình làm mẩy với con người Tây Bắc”. Cũng không ai nghĩ đến nó là một dòng sông:

“Núi cao sông hãy còn dài

Năm năm báo oán đời đời đánh ghen”.

Nguyễn Tuân vẽ lên sông Đà với dáng vẻ uyển chuyển, mềm mại “Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”. Điệp từ “tuôn dài” được lặp lại liên tiếp đến hai lần gợi mở ra chiều dài miên man trải dài khắp một dải đất Tây Bắc. Hình ảnh “áng tóc trữ tình” gợi mở nhiều liên tưởng thú vị. Từ “áng” thường để nhắc đến áng văn, áng thơ,..giờ đây lại đi liền với danh từ tóc càng mở ra nhiều ý nghĩa thi vị. Điệp từ “tuôn dài” kết hợp cùng hình ảnh “áng tóc trữ tình” không chỉ miêu tả chiều dài của con sông Đà mà còn khắc sâu vào tâm tưởng người đọc nét mềm mại, uyển chuyển của một dòng sông mà người ta cứ ngỡ là nó sẽ chỉ nằm mình nằm mẩy, phản ứng vô tội vạ với bất kì người lái đò nào. Điểm xuyết giữa đất trời Tây Bắc là sắc trắng của những bông hoa ban và sắc đỏ của những bông hoa gạo. Những bông hoa ấy như điểm xuyết, làm đẹp thêm cho mái tóc của người con gái thùy mị mà sông Đà chính là người con gái ấy.

Bạn đọc chưa kịp bứt mình ra khỏi sắc màu rực rỡ của hoa ban hoa gạo thì lập tức đã bị cuốn hút trong vẻ đẹp thay đổi sắc màu theo mùa của dòng sông Đà. Mùa xuân, sông Đà mang một màu xanh ngọc bích, gợi nhắc đến những vần thơ của Hàn Mặc Tử:

“Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”

Nhưng nếu chỉ dừng lại ở việc nhắc đến màu xanh ngọc bích thì có lẽ người cầm bút không phải Nguyễn Tuân. Ông tiếp tục đặt màu xanh ấy trong sự so sánh với màu xanh canh hến của sông Gâm và sông Lô. Sang thu, sông Đà mang một màu “lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa….một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về”.

Từ trong rừng đi ra, Nguyễn Tuân nhận ra vẻ đẹp của sông Đà mang theo chiều sâu “như một cố nhân”. Đến với sông Đà Nguyễn Tuân như thấy lòng mình trẻ lại rồi “trước mắt thấy loang loáng như trẻ con nghịch chiếu gương vào mắt mình rồi bỏ chạy”. Ông chợt nhận ra sắc nắng sông Đà cũng thật lạ, đó là một màu nắng tháng ba Đường thi “Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu”. Một sắc nắng giòn tan sau những kì mưa dầm ngây ngất lòng người – một màu nắng tinh khôi. Cảnh sắc nơi đây cũng sống động vui tươi khác hoàn toàn so với những hút nước hung tợn, những thác nước dữ dội “Bờ Sông Đà, bãi Sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên Sông Đà”.

Khi ngồi trên con thuyền trôi giữa dòng nước sông Đà Nguyễn Tuân thấy thật êm đềm biết bao nhiêu “thuyền tôi trôi trên Sông Đà” nghe thật thư thái. Nguyễn Tuân miêu tả sông Đà đầy sinh động “cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm…”. Sông Đà rất giàu có và hào phóng. Dòng sông đã mang đến cho những ngư dân quanh đây nào là cá dầm xanh, cá anh vũ.

Tùy bút “Người lái đò Sông Đà” là mảnh đất nghệ thuật để ngòi bút Nguyễn Tuân thăng hoa. Hiện lên ở đó không chỉ là hình ảnh con sông Đà dữ dội nhưng vẫn thơ mộng mà còn là hình ảnh người lái đò Sông Đà tài hoa trong nghệ thuật vượt thác leo ghềnh. “Người lái đò Sông Đà” đã để lại nhiều dấu ấn sâu sắc trong bạn đọc hôm nay và mai sau.

Lê Thị Thư

Post Comment