Ngữ văn lớp 12

[Văn mẫu tuyển chọn] Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu

[Văn mẫu tuyển chọn] Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu

Dàn ý chi tiết

1. Mở bài

– Giới thiệu tác giả, tác phẩm

– Nêu vấn đề cần nghị luận

– Khái quát chung

2. Thân bài:

-“Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

Mình về mình có nhớ không

Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn”

+ Cách xưng hô “mình – ta”: thiết tha, gần gũi.

+ “Mình” : người cán bộ chiến sĩ cách mạng

+ “ta”: người dân Việt Bắc.

+ “thiết tha mặn nồng: tuy giản dị nhưng lại có sức lay động vô cùng.

-“Mình về mình có nhớ không

Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn”

+ Nó gợi nhắc đến câu tục ngữ “Uống nước nhớ nguồn”.

+ Người đồng bào Việt Bắc nhắn nhủ với người ra đi: ra đi rồi có nhớ về nghĩa tình xưa, nhớ về những năm tháng cùng nhau gắn bó. Phía sau lời nhắn gửi ấy là sự gắn bó sâu nặng giữa kẻ ở và người đi.

-“Tiếng ai tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

+ Người ra đi nhớ nhất đó là giọng nói thân thuộc, nhẹ nhàng của người đồng bào Việt Bắc.

+”tha thiết” diễn tả cảm xúc nhớ nhung, da diết khắc khoải

+ “bâng khuâng” lại gợi cảm giác lâng lâng

+ “bồn chồn” diễn tả trạng thái nôn nao, đứng ngồi không yên.

-“Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

+ Hình ảnh chiếc khăn cái áo dễ gợi dậy nhiều cảm hứng, nỗi niềm cho thơ ca muôn thuở.

+ Người ở lại, họ là những người luôn hết mình vì kháng chiến và cách mạng, luôn sẵn sàng nhường cơm sẻ áo cho cán bộ chiến sĩ cách mạng.

– “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

+ Cách ngắt nhịp 3/5: thể hiện rõ âm điệu, sắc thái của câu thơ.

+ Kỉ niệm ùa về lưu luyến bước chân.

=>tám dòng thơ đầu có cả lời của kẻ ở người đi đã gợi mở ra một vùng trời kỉ niệm lưu luyến.

– “Mình đi, có nhớ những ngày

Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù?

Mình về, có nhớ chiến khu

Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?

Mình về, rừng núi nhớ ai

Trám bùi để rụng, măng mai để già

Mình đi, có nhớ những nhà

Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son

Mình về, còn nhớ núi non

Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh

Mình đi, mình có nhớ mình

Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?”

+ Đoạn thơ có kết cấu tạo thành 6 câu hỏi

+ Điệp ngữ “mình đi…mình về…” => tô đậm cảm xúc nhớ nhung, day dứt, khắc khoải trong lòng kẻ ở người đi.

+ Thiên nhiên Việt Bắc hoang sơ “Mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù”

+ Trong những ngày đầu các anh lên chiến khu cuộc sống còn trăm bề thiếu thốn, chỉ có “miếng cơm chấm muối” mà mối thù lại “nặng vai” => khắc sâu vào tâm trí bạn đọc tội ác tày trời của giặc Pháp.

=> Lời thơ nghẹn ngào tái hiện lại tất khả khó khăn, gian khổ trong buổi đầu kháng chiến nhưng con người thì vẫn bền bỉ một lòng quyết tâm giết giặc cứu nước.

– “Mình về, rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng, măng mai để già”

+ Thiên nhiên nơi đây đã ban tặng cho con người những thức ăn bổ dưỡng trong những ngày gian khổ của cuộc chiến.

– “Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh”.

+ Từ cây đa Tân Trào đất nước đã có đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân

+ Từ mái đình Hồng Thái Trung ương Đảng và Bác Hồ kính yêu đã phát động tổng khởi nghĩa trong cả nước.

– “Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương

Nhớ từng bản khói cùng sương

Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.”

+ Thiên nhiên Việt Bắc hiện lên vừa gần gũi bình dị lại vừa nên thơ.

+ Ánh trăng Việt Bắc sáng rọi, ánh trăng lên nơi đầu núi.

+ Những làn khói hòa cùng sương rừng mang đến khoảng không gian mờ ảo.

-“Nhớ từng rừng nứa bờ tre
…………………………………………………

Chày đêm nện cối đều đều suối xa…”

+ Vẻ đẹp sơn thủy hữu tình có sông Đáy, suối Lê

-“Ta đi, ta nhớ những ngày

Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi…

Thương nhau, chia củ sắn lùi

Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng

Nhớ người mẹ nắng cháy lưng

Ðịu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô”

+ Cuộc sống trăm bề thiếu thốn: sắn lùi thay cơm, chăn sui để chống lại cái giá rét của núi rừng khắc nghiệt.

-“Nhớ người mẹ nắng cháy lưng

Ðịu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô”

+ Người mẹ Việt Bắc chịu nhiều lắm những thương đau nhưng vẫn một lòng địu con lên rẫy chắt chiu từng nguồn lương thực ít ỏi để giúp đỡ người cán bộ chiến sĩ cách mạng.

+ Câu thơ gợi nhắc ta đến hình ảnh:

“Em cu tai ngủ trên lưng mẹ ơi

Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ

Mẹ giã gạo mẹ nuôi bộ đội

Nhịp chày nghiêng giấc ngủ em nghiêng”

– Tại chiến khu, các lớp học bình dân học vụ được mở ra để giệt giặc dốt:

“Nhớ sao lớp học i tờ

Ðồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan”

– “Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều

Chày đêm nện cối đều đều suối xa…”

+ Không gian vào những buổi chiều khi âm thanh tiếng mõ vang lên gọi đàn gia súc trở về.

– “Ta về, mình có nhớ ta

Ta về ta nhớ những hoa cùng người

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình

Rừng thu trăng rọi hoà bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.”

+ “Ta” ở đây để chỉ người ra đi

+ “mình” nhắc đến người ở lại.

+ “nhớ những hoa cùng người” là nhớ những gì tươi đẹp nhất của thiên nhiên Việt Bắc.

+ Mùa đông: nổi bật trên nền xanh của núi rừng là gam màu đỏ tươi của hoa chuối rừng, hình ảnh của người lao động trẻ khỏe trong ánh nắng mùa đông.

+ Mùa xuân: cả vùng trời Việt Bắc nhuộm một màu trắng tinh của trập trùng những đồi hoa mơ, đồng bào Việt Bắc trong những ngày xuân vẫn cần mẫn trong công việc, vẫn tỉ mỉ chuốt từng sợi giang.

+ Mùa hè: khi tiếng ve râm ran tấu lên khúc nhạc vào hè cũng là lúc rừng phách nở hoa, đổ một màu vàng sóng sánh, hình ảnh “Cô em gái hái măng một mình”.

Xem thêm:  Cảm nhận về bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu

+ Mùa thu: Trăng rừng huyền ảo trong đêm thu làm tôn lên vẻ đẹp cho bức tranh thiên nhiên, có tiếng hát của tình quân dân thắm nồng, thắm tình đồng chí.

– “Nhớ khi giặc đến giặc lùng

Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây

Núi giăng thành luỹ sắt dày

Rừng che bộ đội rừng vây quân thù

Mênh mông bốn mặt sương mù

Ðất trời ta cả chiến khu một lòng.”

+ Thủ pháp nghệ thuật điệp từ và nhân hóa Tố Hữu như vẽ ra trước mắt bạn đọc về thiên nhiên Việt Bắc chẳng khác nào một rào cản vững chắc chặn bước chân kẻ thù:

+“Rừng che bộ đội rừng vây quân thù”

=>Câu thơ có hai vế tiểu đối dễ gợi liên tưởng núi rừng Việt Bắc che chở cho người cán bộ chiến sĩ cách mạng chẳng khác nào người mẹ đang dang rộng vòng tay che chở, bảo vệ cho những đứa con thân yêu của mình.

+ Hai chữ “một lòng” mang âm điệu mạnh mẽ, dứt khoát tỏ rõ tinh thần quyết chiến quyết thắng.

– “Những đường Việt Bắc của ta
…………………………………………………..

Ðèn pha bật sáng như ngày mai lên.”

+ Tính từ “rầm rập” mô tả rõ nét âm thanh của những bước chân hành quân ra trận.

+ Quân đội ta hùng tráng, người người lớp lớp trải dọc theo hình núi sông được khắc sâu trong cụm từ láy “điệp điệp trùng trùng”.

+ Hình ảnh “Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan” vừa tả thực lại vừa rất đỗi thi vị. -“Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay”

+ Hình ảnh của từng đoàn dân công ngày đêm không nghỉ miệt mài san đường, chở lương thực cung cấp cho nơi tiền tuyến lửa đạn.

+ Từng bó đuốc sáng chính là niềm tin yêu và hi vọng vào một mai đất nước giải phóng, dân tộc ta giành được độc lập.

-“Tin vui chiến thắng trăm miềm
……………………………………………………

Mái đình Hồng Thái cây đa Tân Trào”.

+ Tin vui chiến thắng từ khắp mọi miền của Tổ quốc được đưa về Việt Bắc.

+ Điệp từ “vui” được lặp lại nhiều lần như mang theo tất cả không khí tươi vui, tưng bừng, náo nhiệt

+ Nhịp thơ trở nên nhanh hơn, dứt khoát hơn thể hiện đúng tinh thần của dân tộc ta trong những ngày chiến thắng.

3. Kết bài:

– Khẳng định lại vấn đề nghị luận

– Cảm nhận cá nhân

phan tich bai tho viet bac cua tac gia to huu - [Văn mẫu tuyển chọn] Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu

Phân tích bài thơ Việt Bắc

Bài văn tham khảo

Tố Hữu là một trong những nhà thơ lớn, tiêu biểu của nền thơ ca cách mạng Việt Nam, nhà thơ của lí tưởng cộng sản. Mọi sự kiện qua trái tim nhạy cảm và cảm hứng nghệ thuật của ông đều kết tinh thành những bài thơ đặc sắc mà “Việt Bắc” là một tác phẩm tiêu biểu cho phong cách thơ của Tố Hữu. Tập thơ được xem là đỉnh cao của thơ ca kháng chiến chống Pháp. Bài thơ “Việt Bắc”được trích từ tập thơ cùng tên, là khúc hát ân tình của người kháng chiến với quê hương đất nước nhân dân cách mạng  được thể hiện qua ngòi bút đậm đà sắc màu dân tộc:

“Mình về mình có nhớ ta?

………………………………………

Mái đình Hồng Thái cây đa Tân Trào.”

Bài thơ bắt đầu với lời nhắn gửi của người ở lại đối với người ra đi:

“Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng 

Mình về mình có nhớ không 

Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn”

Cách xưng hô “mình – ta” nghe thật thiết tha, gần gũi. “Mình” là để chỉ người cán bộ chiến sĩ cách mạng còn “ta” là người dân Việt Bắc. Người ở lại nhắn nhủ với người ra đi về quãng thời gian gắn bó mười lăm năm “thiết tha mặn nồng”. Bốn chữ “thiết tha mặn nồng” tuy giản dị nhưng lại có sức lay động lòng người. Quãng thời gian ấy được đánh dấu từ cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn bùng nổ, là quãng thời gian 9 năm gắn bó của quân và dân ta. Cũng trong khoảng thời gian ấy Bác Hồ trở về nước sau hơn ba mươi năm bôn ba xứ người tìm đường cứu nước:

“Ôi sáng xuân nay xuân bốn mốt 

Trắng rừng biên giới nở hoa mơ 

Bác về im lặng con chim hót 

Thánh thót bờ lau vui ngẩn ngơ”

Đến đây sông núi đã đều in bóng người ra đi:

“Mình về mình có nhớ không 

Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn”

Câu thơ gợi nhắc đến câu tục ngữ “Uống nước nhớ nguồn”. Người đồng bào Việt Bắc nhắn nhủ với người ra đi: ra đi rồi có nhớ về nghĩa tình xưa, nhớ về những năm tháng cùng nhau gắn bó. Phía sau lời nhắn gửi ấy là sự gắn bó sâu nặng giữa kẻ ở và người đi.

Không chỉ người ở lại, người ra đi cũng có thật nhiều những bâng khuâng, lưu luyến:

“Tiếng ai tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi 

Áo chàm đưa buổi phân li 

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

Người ra đi nhớ nhất đó là giọng nói thân thuộc, nhẹ nhàng của người đồng bào Việt Bắc. Tiếng người đồng bào Việt Bắc cứ thế mà vang vọng vào trong không gian, níu giữ bước chân người ra đi.

Cùng với tiếng nói thân thuộc, người ra đi cũng nhớ về sắc áo chàm thân thuộc:

“Áo chàm đưa buổi phân li 

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

Hình ảnh chiếc khăn cái áo dễ gợi dậy nhiều cảm hứng, nỗi niềm cho thơ ca muôn thuở.  Và đến đây, người ra vẫn còn lưu luyến mãi sắc áo chàm thân thuộc gắn liền cùng hình ảnh của những người ở lại. Người ở lại, họ là những người luôn hết mình vì kháng chiến và cách mạng, luôn sẵn sàng nhường cơm sẻ áo cho cán bộ chiến sĩ cách mạng. Nhà thơ Chế Lan Viên cũng đã từng viết:

“Con nhớ anh con người anh du kích

Chiếc áo nâu anh mặc đêm công đồn

Chiếc áo nâu suốt một đời vá rách

Đêm cuối cùng anh cởi lại cho con”

Biết bao nhiêu niềm thương nỗi nhớ bỗng nghẹn ngào rồi lắng lại trong cái cầm tay đến im lặng:

“Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

Trong giây phút chia tay, có quá nhiều điều để nói nhưng lại không thể nói thành lời. Cách ngắt nhịp 3/5 càng thể hiện rõ âm điệu, sắc thái của câu thơ. Kỉ niệm ùa về lưu luyến bước chân.

Khổ thơ tiếp theo, một loạt những kỉ niệm kháng chiến ùa về trong nỗi nhớ:

“Mình đi, có nhớ những ngày
Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù?
Mình về, có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?
Mình về, rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng, măng mai để già
Mình đi, có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son
Mình về, còn nhớ núi non
Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh
Mình đi, mình có nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?”

Đoạn thơ có kết cấu tạo thành 6 câu hỏi cùng điệp ngữ “mình đi…mình về…” đã tô đậm cảm xúc nhớ nhung, day dứt, khắc khoải trong lòng kẻ ở người đi. Đoạn thơ mở ra những kỉ niệm đã qua đi trong những ngày tháng quân dân gắn bó tại chiến khu Việt Bắc trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

Xem thêm:  Dàn ý phân tích sức sống tiềm tàng của Mị trong Vợ chồng A Phủ

Nhớ về một thời chiến đấu đầy gian khổ là nhớ về thiên nhiên Việt Bắc hoang sơ “Mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù”. Thiên nhiên tuy dữ dội khắc nghiệt nhưng cũng trên nền thiên nhiên ấy đã trở thành cơ hội để người lính thử thách bản thân. Và cũng chính trong gian khổ, khó khăn đồng bào Việt Bắc thương yêu đùm bọc người cán bộ chiến sĩ cách mạng bằng tình cảm gắn bó ruột thịt.

Trong những ngày đầu các anh lên chiến khu cuộc sống còn trăm bề thiếu thốn. Dưới mưa bom bão đạn của kẻ thù chỉ có “miếng cơm chấm muối” mà mối thù lại “nặng vai”. Mối thù được hữu hình hóa đến mức “nặng vai” đã khắc sâu vào tâm trí bạn đọc tội ác tày trời của giặc Pháp. Lời thơ nghẹn ngào tái hiện lại tất khả khó khăn, gian khổ trong buổi đầu kháng chiến nhưng con người thì vẫn bền bỉ một lòng quyết tâm giết giặc cứu nước.

Nỗi nhớ thiên nhiên tiếp tục được giãi bày:

“Mình về, rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng, măng mai để già”

Thiên nhiên nơi đây đã ban tặng cho con người những thức ăn bổ dưỡng trong những ngày gian khổ của cuộc chiến. Thế nhưng từ nay trám bùi để rụng không ai ăn, măng mai để già không ai lấy về, rừng núi thiếu vắng đi hơi ấm của sự sống con người.

Nhớ về quá khứ, đó còn là “Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh”. Trong những ngày đầu, lực lượng của ta còn mềm yếu nhưng với tinh thần đoàn kết, gắn bó, tương trợ quân và dân ta đã giành được nhiều thắng lợi vẻ vang. Từ cây đa Tân Trào đất nước đã có đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, từ mái đình Hồng Thái Trung ương Đảng và Bác Hồ kính yêu đã phát động tổng khởi nghĩa trong cả nước.

Đoạn thơ chứa đựng hình ảnh thiên nhiên hùng vĩ, hoang sơ đồng thời ghi lại sự hi sinh bền bỉ dài lâu của đồng bào Việt Bắc trong những năm tháng kháng chiến.

Nỗi nhớ cuộc sống sinh hoạt của người dân Việt Bắc tiếp nối mạch cảm xúc:

“Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương
Nhớ từng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.”

Đoạn thơ diễn tả cụ thể của người ra đi. Trong nỗi nhớ của người ra đi, thiên nhiên Việt Bắc hiện lên vừa gần gũi bình dị lại vừa nên thơ. Đó là ánh trăng Việt Bắc sáng rọi, ánh trăng lên nơi đầu núi. Thiên nhiên nơi đây tràn ngập ánh trăng, mang đậm dấu ấn cho một cuộc sống thanh bình. Hình ảnh thiên nhiên hiện lên trong sự gắn bó mật thiết với cuộc sống con người. Những làn khói hòa cùng sương rừng mang đến khoảng không gian mờ ảo. Trong suy nghĩ của người ra đi, nỗi nhớ thiên nhiên Việt Bắc cũng giống như nỗi nhớ người yêu vậy.

Sau nỗi nhớ thiên nhiên, tác giả dành trọn tâm trí cho nỗi nhớ về con người Việt Bắc:

“Nhớ từng rừng nứa bờ tre

…………………………………………………

Chày đêm nện cối đều đều suối xa…”

Tác giả sử dụng một loạt các hình ảnh liệt kê để vẽ lên vẻ đẹp sơn thủy hữu tình có sông Đáy, suối Lê. Nhà thơ cũng không thể nào quên đi cuộc sống gian khổ ở Việt Bắc nhưng vẫn ấm áp tình người:

“Ta đi, ta nhớ những ngày
Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi…
Thương nhau, chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng
Nhớ người mẹ nắng cháy lưng
Ðịu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô”

Cuộc sống trăm bề thiếu thôn, nơi chiến khu chỉ có sắn lùi thay cơm, chăn sui để chống lại cái giá rét của núi rừng khắc nghiệt. Ở đó, người đồng bào Việt Bắc dành trọn tình yêu thương và sự đùm bọc cho những người cán bộ chiến sĩ cách mạng. Người mẹ Việt Bắc hiện lên trong công việc lao động cần mẫn:

“Nhớ người mẹ nắng cháy lưng
Ðịu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô”

Trong kháng chiến, người mẹ Việt Bắc chịu nhiều lắm những thương đau nhưng vẫn một lòng địu con lên rẫy chắt chiu từng nguồn lương thực ít ỏi để giúp đỡ người cán bộ chiến sĩ cách mạng. Câu thơ gợi nhắc ta đến hình ảnh:

“Em cu tai ngủ trên lưng mẹ ơi

Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ

Mẹ giã gạo mẹ nuôi bộ đội

Nhịp chày nghiêng giấc ngủ em nghiêng”

Tại chiến khu, các lớp học bình dân học vụ được mở ra để giệt giặc dốt:

“Nhớ sao lớp học i tờ
Ðồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan”

Chính người cán bộ chiến sĩ cách mạng đã mang ánh đèn tri thức đến thắp sáng nơi núi rừng hoang sơ. Và trong cái dữ dội của cuộc chiến vẫn không thể thiếu đi những giây phút liên hoan tưng bừng náo nhiệt.

Hình ảnh:

“Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều
Chày đêm nện cối đều đều suối xa…”

Mang đến không gian vào những buổi chiều khi âm thanh tiếng mõ vang lên gọi đàn gia súc trở về. Nó làm sống dậy âm thanh từ ngàn xưa:

“Mục đồng sáo vẳng trâu về hết

Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng”

Một bức tranh có đủ bốn mùa được tái hiện đầy chân thực qua ngòi bút của Tố Hữu:

“Ta về, mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hoà bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.”

“Ta” ở đây để chỉ người ra đi, “mình” nhắc đến người ở lại. “nhớ những hoa cùng người” là nhớ những gì tươi đẹp nhất của thiên nhiên Việt Bắc. Trong ngày đông giá rét, nổi bật trên nền xanh của núi rừng là gam màu đỏ tươi của hoa chuối rừng. Màu đỏ ấy đủ làm bừng lên cả một khoảng không gian, sưởi ấm cảnh vật. Có lẽ cũng vì vậy mà thiên nhiên trong  những ngày đông không còn lạnh lẽo mà trái lại đầm ấm vô cùng. Trên nền thiên nhiên ấy hiện lên hình ảnh của người lao động trẻ khỏe trong ánh nắng mùa đông. Vì thế, cảnh sắc không hề tĩnh tại mà lại sống động lạ thường. Mùa đông qua đi mùa xuân bước đến, không còn màu đỏ của hoa chuối rừng mà thay vào đó cả vùng trời Việt Bắc nhuộm một màu trắng tinh của trập trùng những đồi hoa mơ. Câu thơ gợi nhắc đến những vần thơ cũng tràn đầy sắc trắng:

Xem thêm:  Cảm nghĩ về truyện ngụ ngôn Ếch ngồi đáy giếng

“Mường Thanh, Hồng Cúm, Him Lam

Hoa mơ lại trắng vườn cam lại vàng”

Đồng bào Việt Bắc trong những ngày xuân vẫn cần mẫn trong công việc, vẫn tỉ mỉ chuốt từng sợi giang. Theo bước chân của thời gian, xuân qua hạ tới. Bạn đọc ngỡ ngàng trước sắc hạ vàng rợp kín cả một khoảng trời Việt Bắc. Câu thơ mang đến một chuỗi vận động liên hoàn của chủ thể: khi tiếng ve râm ran tấu lên khúc nhạc vào hè cũng là lúc rừng phách nở hoa, đổ một màu vàng sóng sánh. Nhớ đến mùa hạ Việt Bắc là nhớ đến hình ảnh “Cô em gái hái măng một mình”. Bức tranh tứ bình khép lại trong cái dịu nhẹ của mùa thu. Trăng rừng huyền ảo trong đêm thu làm tôn lên vẻ đẹp cho bức tranh thiên nhiên nơi đây. Ở đó còn có tiếng hát của tình quân dân thắm nồng, thắm tình đồng chí.

Nỗi nhớ Việt Bắc tiếp tục mở ra trong hình ảnh những ngày chiến đấu và chiến thắng:

“Nhớ khi giặc đến giặc lùng
…………………………………………………….

Mái đình Hồng Thái cây đa Tân Trào”.

 Đoạn thơ đã tái hiện lại ba giai đoạn của cuộc chiến. Trong buổi đầu kháng chiến lực lượng quân ta chưa vững chắc:

“Nhớ khi giặc đến giặc lùng
Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây
Núi giăng thành luỹ sắt dày
Rừng che bộ đội rừng vây quân thù
Mênh mông bốn mặt sương mù
Ðất trời ta cả chiến khu một lòng.”

Với thủ pháp nghệ thuật điệp từ và nhân hóa Tố Hữu như vẽ ra trước mắt bạn đọc về thiên nhiên Việt Bắc chẳng khác nào một rào cản vững chắc chặn bước chân kẻ thù:

“Rừng che bộ đội rừng vây quân thù”

Câu thơ có hai vế tiểu đối dễ gợi liên tưởng núi rừng Việt Bắc che chở cho người cán bộ chiến sĩ cách mạng chẳng khác nào người mẹ đang dang rộng vòng tay che chở, bảo vệ cho những đứa con thân yêu của mình. Hai chữ “một lòng” mang âm điệu mạnh mẽ, dứt khoát tỏ rõ tinh thần quyết chiến quyết thắng.

Dần dần, lực lượng của ta được phát triển lớn mạnh hơn làm nên nhiều chiến công vẻ vang:

“Ai về ai có nhớ không?
Ta về ta nhớ Phủ Thông, đèo Giàng
Nhớ sông Lô, nhớ phố Ràng
Nhớ từ Cao-Lạng nhớ sang Nhị Hà…”

Trên khắp các nẻo đường hành quân ra trận:

“Những đường Việt Bắc của ta
Ðêm đêm rầm rập như là đất rung
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan
Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.
Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
Ðèn pha bật sáng như ngày mai lên.”

Đất trời Việt Bắc này là “của ta”, là căn cứ địa cách mạng, là trung tâm đầu não của cuộc kháng chiến. Tính từ “rầm rập” mô tả rõ nét âm thanh của những bước chân hành quân ra trận. Lúc đầu, lực lượng của ta chỉ có hơn ba mươi người nhưng trong những ngày cuối cùng đã có sự tham gia đông đảo của các lực lượng khác nhau. Quân đội ta hùng tráng, người người lớp lớp trải dọc theo hình núi sông được khắc sâu trong cụm từ láy “điệp điệp trùng trùng”. Hình ảnh “Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan” vừa tả thực lại vừa rất đỗi thi vị. Nó ghi lại dấu ấn của thời đại: người lính ra trận với tất cả những gì mình có dù là thô sơ. Bên cạnh hình ảnh những anh bộ đội cụ Hồ là hình ảnh của những đoàn dân công:

“Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay”

Câu thơ làm sống dậy hình ảnh của từng đoàn dân công ngày đêm không nghỉ miệt mài san đường, chở lương thực cung cấp cho nơi tiền tuyến lửa đạn. Từng bó đuốc sáng chính là niềm tin yêu và hi vọng vào một mai đất nước giải phóng, dân tộc ta giành được độc lập. Đèn pha bật sáng rực soi sáng màn sương rừng, đất nước từ trong tăm tối “Nghìn đêm thăm thẳm sương dày” giờ đây đã bừng lên một luồng sáng mới “Ðèn pha bật sáng như ngày mai lên”.

Và cuối cùng, quân và dân ta cũng giành được những thắng lợi vẻ vang:

“Tin vui chiến thắng trăm miềm

……………………………………………………

Mái đình Hồng Thái cây đa Tân Trào”.

Tin vui chiến thắng từ khắp mọi miền của Tổ quốc được đưa về Việt Bắc. Tác giả đã khéo léo lựa chọn các địa danh không chỉ hợp vần mà còn có thể đại diện bao trùm lên cả nước. Điệp từ “vui” được lặp lại nhiều lần như mang theo tất cả không khí tươi vui, tưng bừng, náo nhiệt, đó không còn là niềm vui của riêng một cá nhân nào mà là niềm vui chung của cả cộng đồng, niềm vui của cả dân tộc trong niềm vui hân hoan chiến thắng trên khắp các nẻo đường của Tổ quốc. Nhịp thơ trở nên nhanh hơn, dứt khoát hơn thể hiện đúng tinh thần của dân tộc ta trong những ngày chiến thắng. Thế nhưng Tố Hữu lại chỉ viết đúng bốn câu thơ để miêu tẳ tin chiến thắng bởi lẽ miền Nam vẫn chưa hoàn toàn được giải phóng .

Trong những dòng thơ còn lại tác giả đã bày tỏ lòng biết ơn dành cho mảnh đất và con người Việt Bắc, khẳng định ý nghĩa thiêng liêng của Việt Bắc với cách mạng.

Bài thơ “Việt Bắc” khép lại trong âm hưởng về một đất nước trong chiến tranh với thiên nhiên và với những con người son sắt nghĩa tình. Thể thơ lục bát truyền thống được sử dụng nhuần nhuyễn, kết cấu đối đáp trong ca dao dân ca được khai thác hiệu quả, cặp xưng hô “mình – ta” cùng với giọng thơ ngọt ngào tâm tình tha thiết đã cùng nhau làm nổi bật lên tư tưởng chủ đề của toàn bài thơ.

Lê Thị Thư

Post Comment