Ngữ văn lớp 12

[Văn mẫu tuyển chọn] Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng

[Văn mẫu tuyển chọn] Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng

Dàn ý chi tiết

1. Mở bài

– Giới thiệu tác giả, tác phẩm

– Nêu vấn đề cần nghị luận

– Khái quát chung

2. Thân bài:

* Khái quát:

– Bài thơ gợi nhớ trong lòng bạn đọc về hình ảnh của đoàn binh Tây Tiến – đơn vị bộ đội được thành lập năm 1947 có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt – Lào và vùng hậu cứ kháng chiến, đánh tiêu hao sinh lực địch.

* Phân tích:

– “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”

+ “xa rồi” chứa đầy những ngậm ngùi, nghẹn ngào.

+ Điệp từ “nhớ” được lặp lại đến hai lần diễn tả một nỗi nhớ cứ thế mà chồng chất lên nhau.

-“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi”

+ Hai địa danh Sài Khao và Mường Lát gợi mở thế giới thăm thẳm của đất lạ phương xa.

+ Hình ảnh người lính hiện lên giữa mịt mù sương rừng dày đặc

+ Nhịp thơ 4/3 kết hợp với sự kết thúc của thanh trắc “đoàn quân mỏi” như mang theo tất cả sự mệt nhọc của người lính Tây Tiến.

-“Mường Lát hoa về trong đêm hơi”

+ Hoa Mường Lát chính là niềm tự hào của người dân Tây Bắc

+ Cái mệt nhọc của người lính Tây Tiến bỗng tan biến đi tự bao giờ.

-“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

+ Thiên nhiên thế giới miền Tây với muôn vàn dốc là dốc.

+ Từ láy “thăm thẳm” vốn đã miêu tả độ sâu nay lại cực tả độ sâu của dốc.

+ Điệp từ “dốc” cùng các từ láy “khúc khuỷu, thăm thẳm” càng nhấn mạnh rõ rệt hơn độ sâu đến vô cùng vô tận của dốc núi.

-“Heo hút cồn mây súng ngửi trời”

+ Hình ảnh vô cùng độc đáo và mới lạ “súng ngửi trời”: Mũi súng của người lính như đang thám thính những miền đất lạ

– “Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

+ Điệp từ “ngàn thước” trong nhịp thơ 4/3 : lột tả chiều cao vô cùng vô tận của dốc núi.

+ Khoảng không gian chông chênh đến rợn ngợp.

– “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

+ Dãy Pha Luông nằm ở biên giới Việt Lào, đá dựng thành vách như một bức tường thành vững chãi.

+ Câu thơ đa số sử dụng thanh bằng gợi ra cuộc sống yên bình thanh tĩnh.

-“Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời”

+ Hai tiếng “anh bạn” nghe sao mà thân quen đậm chất người lính đến thế!

+ Người lính đang nằm trong giấc ngủ nghỉ giải lao hiếm hoi hay là các anh đã dấn bước hi sinh trên con đường vạn lí trường chinh.

-“Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”

+ Điệp khúc về thời gian “chiều chiều”, “đêm đêm” : diễn tả quy luật mỗi khi chiều đến đêm về.

+”thác” và “thét” nhói lên ở cuối mỗi dòng thơ.

+ Mỗi khi chiều đến đêm về bóng cọp lởn vởn quanh doanh trại như uy hiếp sự sống của người lính.

+ Hai chữ “Mường Hịch” như mang theo tất cả sức mạnh mãnh thú đầy hằn học và dữ dằn.

-“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

+ Đó là tình quân dân ấm nồng bên bữa cơm sum họp  ấm áp như một đại gia đình. Một nếp nhà ẩn hiện giữa núi rừng Tây Bắc đã thổi bùng lên sức sống cuộn trào, đưa người lính Tây Tiến trở về với những ấm áp đời thường.

+ “Mùa em thơm nếp xôi” là mùa của tình người ấm áp, mùa của sự sống thanh tân

-“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”

+ Đó là kỉ niệm tình quân dân cả nước trong đêm liên hoan đốt lửa trại.

+ Chữ “bừng” là một động từ mạnh càng lột tả được hết sự bất ngờ, nhanh chóng, đột ngột của ánh lửa.

-“Kìa em xiêm áo tự bao giờ”

+ Những cô thiếu nữ miền sơn cước trong những bộ trang phục của vùng xứ lạ phương xa.

-“Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”

+ Điệu nhạc hấp dẫn lạ lùng nâng bổng tâm hồn người lính Tây Tiến đến với thành Viên Chăn xa xôi.

-“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

+ Nỗi buồn biệt li man mác bao trùm lên mỗi vần thơ.

+ Người lính cất bước ra đi mà tâm hồn họ gửi lại mới thấy “hồn lau nẻo bến bờ” vương phủ theo bước quân hành.

+ Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình cùng biện pháp nghệ thuật nhân hóa đã khắc sâu vào mỗi con chữ vần thơ là nỗi niềm nhớ thương

-“Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

+ Một đóa hoa mỏng manh khẽ lay động giữa dòng nước cuộn xiết.

-“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

+ Bức tượng đài chân dung người lính lên đường bảo vệ biên cương, mang tầm vóc lớn lao.

+ Người lính đều đồng nhất trong dáng hình tóc rụng hết vì những trận sốt rét rừng hoành hành.

+ Biện pháp đảo ngữ khiến cho ba chữ “không mọc tóc” vang lên trong âm điệu hào hùng, rắn rỏi.

Xem thêm:  Phân tích khổ thơ thứ ba bài “Bên kia sông Đuống”- văn lớp 12

+ Nước ra xanh rớt đi của người lính vì bị những trận sốt rét rừng hoành hành.

+ “quân xanh màu lá” đã làm lu mờ đi cái tiều tụy của người lính, hình ảnh của họ hiện lên trong màu áo xanh bát ngát trập trùng như hòa cùng với núi rừng miền Tây.

+ Ba chữ “dữ oai hùm” mở ra vẻ đẹp dữ dằn như hùm thiêng sông núi, sự dữ tợn để chống lại kẻ thù, chung tay bảo vệ biên giới đem lại hòa bình cho cả nước bạn – Lào.

-“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

+ Đó là giấc mộng qua biên giới nơi còn nhiều bóng giặc, giấc mộng dẹp tan bè lũ cướp nước

+ Các anh mơ về “Hà Nội dáng kiều thơm” là nỗi nhớ về Hà Nội, về rồi những cô gái Hà thành yêu kiều và duyên dáng

-“Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

+ Cái chết và sự hiểm nguy vẫn  luôn bủa vây xung quanh các anh.

+ Hình ảnh đoàn những nấm mồ rải rác khắp cả một miền biên cương đã phô ra hết cái khốc liệt của trận chiến.

+ Các anh ra đi trong tâm thế “chẳng tiếc đời xanh”..

+ Trong giây phút hi sinh thiếu đi tất cả những nghi thức thông thường.

+ Trong giây phút hạ huyệt cũng không có điệu hồn tử sĩ nhưng thay vào đó là tiếng gầm lên của con sông Mã – người  bạn đường tri kỉ theo sát bước quân hành của người lính Tây Tiến, nay nó gầm lên trong đau đớn, quặn thắt tiễn đưa vong linh người lính về với đất mẹ.

-“Tây Tiến người đi không hẹn ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”

+ “không hẹn ước” – không hẹn ngày trở về.

+ Người lính ra đi bỏ lại tất cả ở phía sau lưng cũng vì nghĩa lớn với Tổ quốc thân yêu.

3. Kết bài:

– Khẳng định lại vấn đề nghị luận

– Cảm nhận cá nhân

phan tich bai tho tay tien - [Văn mẫu tuyển chọn] Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng

Phân tích bài thơ Tây Tiến

Bài văn tham khảo

Quang Dũng là nhà thơ của xứ Đoài mây trắng và dòng sông Đáy nhớ thương. Ông là một người nghệ sĩ đa tài viết văn, làm thơ, sáng tác nhạc,…Trên hết, Quang Dũng rất thành công khi viết về đề tài người lính. Trong đó Tây Tiến là đứa con đầu lòng hào hoa tráng kiện cho đời thơ Quang Dũng, là thi phẩm xuất sắc của thơ ca kháng chiến được sáng tác năm 1948:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

………………………………………

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”

Bài thơ gợi nhớ trong lòng bạn đọc về hình ảnh của đoàn binh Tây Tiến – đơn vị bộ đội được thành lập năm 1947 có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt – Lào và vùng hậu cứ kháng chiến, đánh tiêu hao sinh lực địch.

Bài thơ mở ra cả vùng trời nhớ thương da diết, khôn nguôi:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi 

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”

Hai chữ “xa rồi” chứa đầy những ngậm ngùi, nghẹn ngào. Tác giả sử dụng điệp từ “nhớ” được lặp lại đến hai lần diễn tả một nỗi nhớ cứ thế mà chồng chất lên nhau. Đó lại là một nỗi nhớ chơi vơi – bồng bềnh chênh chao không dễ dàng nguôi ngoai. Ca dao xưa cũng đã từng lưu lại một nỗi nhớ như thế:

“Ra về nhớ bạn chơi vơi

Nhớ chiếu bạn trải nhớ nơi bạn nằm”.

Nỗi nhớ ấy lan tỏa qua mỗi vần thơ, dòng thơ hiện lên hình ảnh người lính bước đi trong màn sương rừng mịt mù:

“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi 

Mường Lát hoa về trong đêm hơi”

Đến đây, hai địa danh Sài Khao và Mường Lát gợi mở thế giới thăm thẳm của đất lạ phương xa. Hình ảnh người lính hiện lên giữa mịt mù sương rừng dày đặc, sương như che lấp đi hình hài, như muốn vùi dập những sinh mạng bé nhỏ này. Nhịp thơ 4/3 kết hợp với sự kết thúc của thanh trắc “đoàn quân mỏi” như mang theo tất cả sự mệt nhọc của người lính Tây Tiến. Dù mệt nhọc nhưng tâm hồn họ vẫn lãng mạn, vẫn thấy thấp thoáng vẻ đẹp lung linh của những đoá hoa rừng:

“Mường Lát hoa về trong đêm hơi”

Hoa Mường Lát chính là niềm tự hào của người dân Tây Bắc, là vẻ đẹp đầy sức lôi cuốn trong tâm hồn người lính Tây Tiến. Cũng chính trong vẻ đẹp ngây ngất lòng người ấy mà cái mệt nhọc của người lính Tây Tiến bỗng tan biến đi tự bao giờ.

Trong những câu thơ tiếp theo, Quang Dũng tiếp tục thể hiện sự thăng hoa trong ngòi bút của mình qua việc khai thác hình ảnh thiên nhiên miền Tây hùng vĩ, đầy dữ dội nhưng cũng rất nên thơ

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm 

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống 

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

Hiện lên trước mắt bạn đọc là thiên nhiên thế giới miền Tây với muôn vàn dốc là dốc. Một ngày hành quân của người lính gắn liền với những ngọn dốc gập ghềnh khúc khuỷu. Từ láy “thăm thẳm” vốn đã miêu tả độ sâu nay lại cực tả độ sâu của dốc. Điệp từ “dốc” cùng các từ láy “khúc khuỷu, thăm thẳm”càng nhấn mạnh rõ rệt hơn độ sâu đến vô cùng vô tận của dốc núi.

Xem thêm:  Phân tích tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân- văn lớp 12

Dẫu vậy thiên nhiên ấy vẫn nằm dưới bước chân của người lính để rồi khi lên đến điểm cao nhất cũng là lúc các anh nhận ra:

“Heo hút cồn mây súng ngửi trời”

Câu thơ mang đến hình ảnh vô cùng độc đáo và mới lạ “súng ngửi trời”. Mũi súng của người lính như đang thám thính những miền đất la. Hình ảnh thơ gợi nhắc đến thơ của Chính Hữu:

“Đầu súng trăng treo”

Tuy nhiên, đó vẫn chưa hết cái dữ dội của thiên nhiên để rồi lại mở ra:

“Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống 

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

Điệp từ “ngàn thước” trong nhịp thơ 4/3 thêm một lần nữa đã lột tả được hết chiều cao vô cùng vô tận của dốc núi. Từ tận cùng của độ cao cho đến tận cùng của độ sâu đã làm nên những khe vực hãi hùng uy hiếp bước chân người lính. Trước mắt ta bây giờ là một khoảng không gian chông chênh đến rợn ngợp.

Khi dừng chân lại bên vách núi phóng tầm mắt ra xa cũng là lúc các anh nhận ra:

“Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

Dãy Pha Luông nằm ở biên giới Việt Lào, đá dựng thành vách như một bức tường thành vững chãi. Câu thơ đa số sử dụng thanh bằng gợi ra cuộc sống yên bình thanh tĩnh.

Con đường Tây Tiến gian khổ nhưng cũng chính trong khó khăn ấy hiện lên hình ảnh người lính trong buổi đầu vệ quốc:

“Anh bạn dãi dầu không bước nữa 

Gục lên súng mũ bỏ quên đời”

Hai tiếng “anh bạn” nghe sao mà thân quen đậm chất người lính đến thế! Người lính đang nằm trong giấc ngủ nghỉ giải lao hiếm hoi hay là các anh đã dấn bước hi sinh trên con đường vạn lí trường chinh. Dù hiểu theo cách nào đi nữa câu thơ cũng là để ngợi ca người lính anh dũng năm nào.

Thiên nhiên miền Tây vẫn ẩn náu nhiều bí hiểm:

“Chiều chiều oai linh thác gầm thét 

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”

Câu thơ vận dụng cấu trúc song hành cùng bắt đầu với điệp khúc về thời gian “chiều chiều”, “đêm đêm” đã diễn tả quy luật mỗi khi chiều đến đêm về. Câu thơ càng mang âm hưởng chói gắt khi từ “thác” và “thét” nhói lên ở cuối mỗi dòng thơ. Mỗi khi chiều đến đêm về bóng cọp lởn vởn quanh doanh trại như uy hiếp sự sống của người lính. Hai chữ “Mường Hịch” như mang theo tất cả sức mạnh mãnh thú đầy hằn học và dữ dằn.

Dẫu vậy dư vị không thể nào quên trong suốt cuộc đời người lính vẫn là:

“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói 

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

Đó là tình quân dân ấm nồng bên bữa cơm sum họp  ấm áp như một đại gia đình. Một nếp nhà ẩn hiện giữa núi rừng Tây Bắc đã thổi bùng lên sức sống cuộn trào, đưa người lính Tây Tiến trở về với những ấm áp đời thường. “Mùa em thơm nếp xôi” là mùa của tình người ấm áp, mùa của sự sống thanh tân. Và như thế, đọng lại trong tâm hồn người lính vẫn là cuộc sống bình yên thắm tình quân dân cả nước.

Quang Dũng tiếp tục vẽ lên bức tranh đêm liên hoan đốt lửa trại náo nhiệt:

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa 

Kìa em xiêm áo tự bao giờ 

Khèn lên man điệu nàng e ấp 

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”

Đó là kỉ niệm tình quân dân cả nước trong đêm liên hoan đốt lửa trại. Giữa đêm tối, ánh sáng của đuốc lửa bừng sáng lên, ánh sáng đột ngột và đầy rực rỡ. Chữ “bừng” là một động từ mạnh càng lột tả được hết sự bất ngờ, nhanh chóng, đột ngột của ánh lửa. Trong đêm liên hoan ấy người lính Tây Tiến bất ngờ biết bao trước sự xuất hiện của những thiếu nữ miền núi:

“Kìa em xiêm áo tự bao giờ”

Những cô thiếu nữ miền sơn cước trong những bộ trang phục của vùng xứ lạ phương xa. Đó là những cô gái trẻ trung, thanh tân như những nàng tiên bước ra từ truyện cổ tích. Vẻ đẹp dịu dàng hòa cùng vũ khúc dặt dìu:

“Khèn lên man điệu nàng e ấp 

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”

Trong muôn vàn điệu nhạc của xứ lạ phương xa Quang Dũng lại nhớ nhất đó chính là tiếng khèn giao duyên man trở man điệu. Điệu nhạc hấp dẫn lạ lùng nâng bổng tâm hồn người lính Tây Tiến đến với thành Viên Chăn xa xôi. Câu thơ mang theo âm hưởng trầm bổng, vượt lên hiện thực.

Cảnh biệt li diễn ra ở Châu Mộc:

“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy 

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

Nỗi buồn biệt li man mác bao trùm lên mỗi vần thơ. Chiều sương biên giới mới heo hút và thấm lạnh làm sao! Người lính cất bước ra đi mà tâm hồn họ gửi lại mới thấy “hồn lau nẻo bến bờ” vương phủ theo bước quân hành. Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình cùng biện pháp nghệ thuật nhân hóa đã khắc sâu vào mỗi con chữ vần thơ là nỗi niềm nhớ thương, bồi hồi đầy lưu luyến. Bức tranh thiên nhiên ấy vụt sống động với sự xuất hiện của “dáng người trên độc mộc”. Hình ảnh tươi trẻ và đầy khỏe khoắn. Ngòi bút của Quang Dũng khéo léo vận dụng nghệ thuật đối lập tương phản:

“Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

Một đóa hoa mỏng manh khẽ lay động giữa dòng nước cuộn xiết. Nó mang theo sự sống tươi mát. Người đọc chợt nhận ra hình ảnh những bông hoa núi rừng miền Tây vẫn luôn thấp thoáng ẩn hiện theo từng bước chân hành quân.

Xem thêm:  Soạn bài Khóc Dương Khuê của nhà thơ Nguyễn Khuyến

Sau bức tranh về thiên nhiên nhà thơ Quang Dũng khai thác vẻ đẹp hình tượng người lính:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới 

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

Hiện lên qua khổ thơ là bức tượng đài chân dung người lính lên đường bảo vệ biên cương, mang tầm vóc lớn lao. Người lính đều đồng nhất trong dáng hình tóc rụng hết vì những trận sốt rét rừng hoành hành. Hình ảnh ấy đã từng xuất hiện trong thơ Chính Hữu:

“Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi”

Hay trong thơ Tố Hữu:

“Giọt giọt mồ hôi rơi 

Trên má anh vàng nghệ”

Nhưng cái hay và độc đáo của Quang Dũng chính là ở việc vận dụng biện pháp đảo ngữ khiến cho ba chữ “không mọc tóc” vang lên trong âm điệu hào hùng, rắn rỏi. Phải chăng những người lính đã tự cạo trọc đi mái tóc của mình để thuận tiện trong chiến đấu?

Hình ảnh đoàn binh Tây Tiến tiếp tục hiện lên trong sắc xanh bát ngát. Sắc xanh ấy là nước ra xanh rớt đi của người lính vì bị những trận sốt rét rừng hoành hành. Thế nhưng bốn chữ “quân xanh màu lá” đã làm lu mờ đi cái tiều tụy của người lính, hình ảnh của họ hiện lên trong màu áo xanh bát ngát trập trùng như hòa cùng với núi rừng miền Tây. Ba chữ “dữ oai hùm” mở ra vẻ đẹp dữ dằn như hùm thiêng sông núi, sự dữ tợn để chống lại kẻ thù, chung tay bảo vệ biên giới đem lại hòa bình cho cả nước bạn – Lào.

Dẫu hiện thực có khốc liệt nhưng tâm hồn các anh vẫn rất lạc quan, lãng mạn:

“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới 

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

Đó là giấc mộng qua biên giới nơi còn nhiều bóng giặc, giấc mộng dẹp tan bè lũ cướp nước, khao khát mang lại hòa bình cho Tổ quốc và nước bạn Lào. Giấc mộng ấy chắp cánh ước mơ hạnh phúc. Các anh mơ về “Hà Nội dáng kiều thơm” là nỗi nhớ về Hà Nội, về rồi những cô gái Hà thành yêu kiều và duyên dáng. Cùng với nỗi nhớ quê hương người lính Tây Tiến cũng sẽ mãi nhớ về những người con gái thanh lịch như mang theo tất cả sự thơm tho của đất trời.

Người lính Tây Tiến luôn chiến đấu anh dũng và họ hi sinh cũng rất anh hùng:

“Rải rác biên cương mồ viễn xứ 

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh 

Áo bào thay chiếu anh về đất 

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Trong suốt chặng đường hành quân chinh chiến của người lính Tây Tiến, cái chết và sự hiểm nguy vẫn  luôn bủa vây xung quanh các anh. Hình ảnh đoàn những nấm mồ rải rác khắp cả một miền biên cương đã phô ra hết cái khốc liệt của trận chiến. Các anh ra đi trong tâm thế “chẳng tiếc đời xanh”. Các anh ra đi bỏ lại phía sau là gia đình, là khát vọng hạnh phúc và sự nghiệp dang dở. Nhưng tất cả đã lùi về sau bởi người lính đã dứt khoát ra đi vì nghĩa lớn với Tổ quốc.

Trong giây phút hi sinh thiếu đi tất cả những nghi thức thông thường. Không có quan tài khâm niệm thi hài liệt sĩ, các anh trở về đất mẹ trong bộ trang phục thấm biết bao mồ hôi tâm huyết trên chặng đường chinh chiến, còn có cả máu xương của kẻ thù. Các anh trở về với đất mẹ còn đất mẹ thì đang dang rộng vòng tay chào đón những đứa con thân yêu trở về.

Trong giây phút hạ huyệt cũng không có điệu hồn tử sĩ nhưng thay vào đó là tiếng gầm lên của con sông Mã – người  bạn đường tri kỉ theo sát bước quân hành của người lính Tây Tiến, nay nó gầm lên trong đau đớn, quặn thắt tiễn đưa vong linh người lính về với đất mẹ. Như vậy Quang Dũng đã viết lên những nghi lễ an táng tinh thần để che lấp đi sự thiếu thốn về vật chất để làm bật lên vẻ đẹp của người lính đã dấn bước hi sinh để bảo vệ Tổ quốc.

Khép lại bài thơ là lời thề của người lính:

“Tây Tiến người đi không hẹn ước 

Đường lên thăm thẳm một chia phôi 

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy 

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”

Người lính trong buổi đầu vệ quốc ra đi “không hẹn ước” – không hẹn ngày trở về.Người lính ra đi bỏ lại tất cả ở phía sau lưng cũng vì nghĩa lớn với Tổ quốc thân yêu. Trong tâm trí Quang Dũng, hình ảnh của họ hiện lên vẫn thật đẹp, thật hào hùng trong tư thế hành quân. Thế nhưng dù còn sống hay đã khuất họ vẫn mãi gắn bó với cách mạng và kháng chiến, tâm hồn mãi hướng về Sầm Nứa mà “chẳng về xuôi”.

Tây Tiến đã làm bật lên vẻ đẹp của người lính Tây Tiến là những chàng trai Hà thành vừa xếp bút nghiên rời sách vở sẵn sàng ra đi để bảo vệ quê hương đất nước chung sức đem lại hòa bình cho nước bạn – Lào. Bên cạnh đó còn có vẻ đẹp của thiên nhiên vừa hùng vĩ lại vừa thơ mộng.

Lê Thị Thư

Post Comment