Ngữ văn lớp 12

[Văn mẫu tuyển chọn] Phân tích bài thơ Đò lèn của Nguyễn Duy

[Văn mẫu tuyển chọn] Phân tích bài thơ Đò lèn của Nguyễn Duy

Dàn ý chi tiết

1. Mở bài

– Giới thiệu tác giả, tác phẩm

– Nêu vấn đề cần nghị luận:  Phân tích bài thơ Đò lèn

– Khái quát chung

2. Thân bài:

* Khái quát:

– Hành trình nghệ thuật của Nguyễn Duy có thể chia làm hai giai đoạn: trước những năm tám mươi và sau những năm tám mươi. Và chỉ sau những năm tám mươi hồn thơ của Nguyễn Duy mới có những chuyển biến đáng kể, sự chuyển biến được thể hiện trên nhiều cấp độ: cảm hứng chủ đạo, thể loại, ngôn ngữ và giọng điệu…Bài thơĐò lèn” cũng được sáng tác trong giai đoạn đó. Bài thơ được viết năm 1983 trong một dịp nhà thơ trở về quê hương, sống với những hồi ức đan xen nhiều vui buồn của tuổi thơ

* Phân tích:

– “Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá
níu váy bà đi chợ Bình Lâm
bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật
và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần

Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị
chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng
mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm
điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng”

– “chùa Trần”, “chợ Bình Lâm”, “đền Cây Thị”, “đền Sòng”, “cống Na”

=> miền kí ức tuổi thơ trên mảnh đất quê hương yêu dấu, dù cuộc sống còn nhiều khó khăn nhưng tuổi thơ vẫn được thỏa thích chơi đùa.

+ Những lần câu cá ở cống Na

+ Níu váy bà theo ra chợ Bình Lâm

+ Bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật

+ Ăn trộm nhãn ở chùa chùa Trần

=>Lời thơ giản dị, mộc mạc lại có sức lay động, hấp dẫn người đọc chính bởi sự ngây thơ trong sáng của tuổi nhỏ.

+ Háo hức đi xem lễ hội đền Sòng – giáp giới với tỉnh Ninh Bình.

+ Tuổi thơ ấy còn có cả “mùi huệ trắng” cùng “điệu hát văn” quen thuộc.

=> Qua hai khổ thơ đầu cái tôi được tái hiện đầy chân thực và sống động. Tác giả không che giấu đi cái tinh nghịch của tuổi thơ mà sẵn sàng kể hết những điều đã từng trải của một cậu bé xuất thân từ miền quê nghèo khó. Đến đây ta cũng nhận ra nét quen thuộc nhưng cũng đầy mới mẻ trong ngòi bút của Nguyễn Duy: không thi vị hóa những điều chân thực của cuộc sống.

– “Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế
bà mò cua xúc tép ở đồng Quan
bà đi gánh chè xanh Ba Trại
Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn”

+ Bà đã phải chịu quá nhiều vất vả, lam lũ của cuộc đời để nuôi dạy đứa cháu nhỏ nên người: Mò cua xúc tép, thập thững bước đi gánh hàng chè xanh,…

Xem thêm:  Cảm nhận của em về nhân vật chị Dâu qua đoạn trích “Tức nước vỡ bờ ” của Ngô Tất Tố

+  Nhà thơ đã tự trách mình “Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế”.

-“Tôi trong suốt giữa hai bờ hư – thực
giữa bà tôi và tiên phật, thánh thần
cái năm đói củ dong riềng luộc sượng
cứ nghe thơm mùi huệ trắng hương trầm”

+ Trong những tháng ngày thiếu thốn miếng ăn, có củ dong riềng luộc sượng bà cũng để dành cho cháu

+ Mùi thơm của củ dong riềng làm sống dậy trong đứa cháu năm nào mùi hương của hoa huệ trắng

– “Bom Mỹ dội, nhà bà tôi bay mất
đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền
thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết
bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn”

+ Bom Mỹ đã phá hủy đi ngôi nhà nơi hai bà cháu trú ngụ, phá hủy đi cả đền Sòng,…

+ Bà hiện lên vẫn thật kiên cường, vẫn tiếp tục đứng vững trong cuộc sống mưu sinh:

+ Hình ảnh của bà đến đây hiện lên vẫn vẹn nguyên trong nét đẹp kiên cường, bền bỉ chống chọi với nghịch cảnh.

– “Tôi đi lính, lâu không về quê ngoại
dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi
khi tôi biết thương bà thì đã muộn
bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi!”

+ “Dòng sông xưa”  mà tác giả nhắc đến là sòng Chu, sông Mã, sông Đò Lèn.

+ “dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi” mang hàm ý sâu xa về cuộc đời, về những đổi thay trên quê hương.

=> Nhà thơ cũng bày tỏ sự hối hận, ăn năn, tiếc nuối bởi khi ông nhận ra sự hi sinh lớn lao của bà thì cũng đã quá muộn rồi – bà không còn nữa!

3. Kết bài:

– Khẳng định lại vấn đề nghị luận

– Cảm nhận cá nhân

phan tich bai tho do len - [Văn mẫu tuyển chọn] Phân tích bài thơ Đò lèn của Nguyễn Duy

Phân tích bài thơ Đò lèn

Bài văn tham khảo

Hành trình nghệ thuật của Nguyễn Duy có thể chia làm hai giai đoạn: trước những năm tám mươi và sau những năm tám mươi. Và chỉ sau những năm tám mươi hồn thơ của Nguyễn Duy mới có những chuyển biến đáng kể, sự chuyển biến được thể hiện trên nhiều cấp độ: cảm hứng chủ đạo, thể loại, ngôn ngữ và giọng điệu…Bài thơ “Đò lèn” cũng được sáng tác trong giai đoạn đó. Bài thơ được viết năm 1983 trong một dịp nhà thơ trở về quê hương, sống với những hồi ức đan xen nhiều vui buồn của tuổi thơ:

“Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá

……………………………………………

bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi!”

Mở đầu bài thơ là một vùng trời kỉ niệm kí ức những ngày thơ dại:

“Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá
níu váy bà đi chợ Bình Lâm
bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật
và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần

Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị
chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng
mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm
điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng”

Tác giả nhắc đến một loạt những địa danh “chùa Trần”, “chợ Bình Lâm”, “đền Cây Thị”, “đền Sòng”, “cống Na” để gợi dậy lại một miền kí ức tuổi thơ trên mảnh đất quê hương yêu dấu. Ngày ấy dù cuộc sống còn nhiều khó khăn nhưng tuổi thơ vẫn được thỏa thích chơi đùa. Trong miền kí ức ấy nhà thơ nhớ nhất là những lần câu cá ở cống Na, níu váy bà theo ra chợ Bình Lâm, bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật và còn có những lần ăn trộm nhãn ở chùa chùa Trần…Một tuổi thơ được thỏa thích nô đùa! Đó là cả một vùng trời tươi đẹp sẽ chẳng thể nào phai nhòa trong tâm trí. Lời thơ giản dị, mộc mạc lại có sức lay động, hấp dẫn người đọc chính bởi sự ngây thơ trong sáng của tuổi nhỏ.

Xem thêm:  Phân tích số phận của người phụ nữ xưa thông qua hai tác phẩm “Vợ nhặt” và Vợ chồng A Phủ – văn lớp 12

Rồi tuổi thơ còn là những tháng ngày vô tư hồn nhiên, háo hức đi xem lễ hội đền Sòng – giáp giới với tỉnh Ninh Bình. Tuổi thơ ấy còn có cả “mùi huệ trắng” cùng “điệu hát văn” quen thuộc. Từ láy “lảo đảo” lại càng làm đậm hơn sắc màu văn hóa dân gian cho ý thơ.

Qua hai khổ thơ đầu cái tôi được tái hiện đầy chân thực và sống động. Tác giả không che giấu đi cái tinh nghịch của tuổi thơ mà sẵn sàng kể hết những điều đã từng trải của một cậu bé xuất thân từ miền quê nghèo khó. Đến đây ta cũng nhận ra nét quen thuộc nhưng cũng đầy mới mẻ trong ngòi bút của Nguyễn Duy: không thi vị hóa những điều chân thực của cuộc sống.

Trong những dòng thơ tiếp theo tác giả tiếp tục dành những vần thơ của mình để nâng niu, trân trọng người bà đáng kính:

“Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế
bà mò cua xúc tép ở đồng Quan
bà đi gánh chè xanh Ba Trại
Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn”

Bà đã phải chịu quá nhiều vất vả, lam lũ của cuộc đời để nuôi dạy đứa cháu nhỏ nên người. Cuộc đời bà cơ cực là thế! Mò cua xúc tép, thập thững bước đi gánh hàng chè xanh,…Vất vả, nhọc nhằn của cuộc đời bà giờ đây cháu đã thấy và hiểu rõ để rồi nhà thơ đã tự trách mình “Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế”.

Xem thêm:  Làm sáng tỏ ý kiến: Bình Ngô đại cáo là tác phẩm thể hiện tinh thần yêu nước sâu sắc

Trong suốt những ngày đói rét hình ảnh của bà hiện lên vẫn đầy nhân hậu và giàu lòng nhân ái:

“Tôi trong suốt giữa hai bờ hư – thực
giữa bà tôi và tiên phật, thánh thần
cái năm đói củ dong riềng luộc sượng
cứ nghe thơm mùi huệ trắng hương trầm”

Trong những tháng ngày thiếu thốn miếng ăn, có củ dong riềng luộc sượng bà cũng để dành cho cháu, bà yêu và thương cháu hơn bất kì ai! Mùi thơm của củ dong riềng làm sống dậy trong đứa cháu năm nào mùi hương của hoa huệ trắng:

“Cứ nghe thơm mùi huệ trắng hương trầm”

Mùi thơm của hoa huệ đã được tác giả nhắc đến hai lần thế nhưng không phải là ngửi thấy mà lại là “cứ nghe”. Tác giả sử dụng mùi hương ấy để làm sống dậy những giá trị thiêng liêng của tình bà cháu sâu đậm.

Cái dữ dội của cuộc chiến đã phá hủy đi quá nhiều:

“Bom Mỹ dội, nhà bà tôi bay mất
đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền
thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết
bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn”

Giữa mưa bom bão đạn, giữa hiện thực khốc liệt của cuộc chiến, bom Mỹ đã phá hủy đi ngôi nhà nơi hai bà cháu trú ngụ, phá hủy đi cả đền Sòng,…nhưng hình ảnh của bà hiện lên vẫn thật kiên cường, vẫn tiếp tục đứng vững trong cuộc sống mưu sinh:

“bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn”

Hình ảnh của bà đến đây hiện lên vẫn vẹn nguyên trong nét đẹp kiên cường, bền bỉ chống chọi với nghịch cảnh.

Từ quá khứ về đến thực tại, đứa cháu đầy xúc động khi đứng trước nấm mộ của bà:

“Tôi đi lính, lâu không về quê ngoại
dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi
khi tôi biết thương bà thì đã muộn
bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi!”

“Dòng sông xưa”  mà tác giả nhắc đến là sòng Chu, sông Mã, sông Đò Lèn. Còn hình ảnh “dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi” mang hàm ý sâu xa về cuộc đời, về những đổi thay trên quê hương. Đồng thời nhà thơ cũng bày tỏ sự hối hận, ăn năn, tiếc nuối bởi khi ông nhận ra sự hi sinh lớn lao của bà thì cũng đã quá muộn rồi – bà không còn nữa!

Bài thơ khép lại, âm vang về một tuổi thơ thỏa sức tinh nghịch hiện về trước mắt cùng hình ảnh người bà tần tảo sớm hôm, kiên cường trong cuộc sống mưu sinh qua những dòng tâm sự chân thành của người cháu sẽ mãi chẳng thể phai nhòa trong tâm trí bạn đọc biết bao thế hệ.

Lê Thị Thư

Post Comment